Minh Biện

Tìm, Đọc, Nghĩ, Viết

  • Quản trị

  • Bài mới

  • Lời bình gần đây

  • Chủ đề

  • Thư viện bài

  • Cần có giải pháp Biển Đông

    Dương Danh Huy -- 21 tháng 08, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Xin giới thiệu với bạn đọc Minh Biện bài viết này.

    Đề nghi chia vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Biển Đông. Các đảo trong quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Scarborough  Shoal và vùng biển trong các hình tròn 12 hải lý chung quanh mỗi đảo không được chia cho nước nào cho tới khi tranh chấp chủ quyền đảo được giải quyết. Vùng biển ngoài các hình tròn này được chia theo đường trung tuyến từ bờ biển chính của mỗi nước.

    Đề nghi chia vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Biển Đông. Các đảo trong quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Scarborough Shoal và vùng biển trong các hình tròn 12 hải lý chung quanh mỗi đảo không được chia cho nước nào cho tới khi tranh chấp chủ quyền đảo được giải quyết. Vùng biển ngoài các hình tròn này được chia theo đường trung tuyến từ bờ biển chính của mỗi nước.

    Bài trong chủ đề Biển Đông | 7 lời bình »

    Bí kíp kinh doanh

    Khoa -- 13 tháng 08, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Bí kíp kinh doanh

    Trồng bởi Khoa Trần, cắt tỉa bởi Dự Trần

    Giới thiệu

    Sinh là một người thường ôm trong lòng chí lớn, muốn một ngày lột xác thoát cảnh hàn vi, trở thành đại gia. Sinh mơ tới lúc lượn lờ dưới phố thì đi xe Ferrari, khi tung bay trên trời thì đi BD-700 Global Express Jets, lúc nghỉ ngơi thì có mỹ nhân kề cận, khi làm việc thì quyết định vận mệnh cả vạn người. Ấy thế, là người hàn vi, Sinh không biết làm thế nào để đại nguyện tựu thành. Giấc mơ vẫn chỉ là giấc mơ cho tới khi sinh có trong tay kỳ thư về làm giàu trong thiên hạ. Sinh mua được kỳ thư từ Amazon.Com, đem về đọc ngấu nghiến, những tưởng đâu sáng mai thức dậy thì thần tài sẽ gõ cửa. Nào ngờ tiền mất tật mang, lại bị đứa trẻ hàng xóm chê cười là vừa tham, vừa ngu, chẳng khác chi bọn trẻ nhóc mất tiền mua bí kíp võ lâm về đọc nhằm trở thành cao thủ giang hồ như trong phim kiếm hiệp.

    The image “http://www.jekmenterprises.com/money.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.
    Chủ đề về các bí quyết kinh doanh không có gì mới nhưng luôn nhận được sự quan tâm của rất nhiều bạn trên thế giới. Điều này dễ hiểu vì hạng người như nhân vật Sinh trong phần giới thiệu không hiếm. Có khoảng hàng vạn sách về thể loại này, từ thượng vàng đến hạ cám. Trong bài viết này, tôi chủ yếu nói về loại hàng khủng (business bestsellers [1]). Hiển nhiên, đa số dân kinh doanh đã từng đọc sẽ cho rằng những quyển này là kim chỉ nan (bible). Đến cả Steve Ballmer, CEO của đại gia Microsoft, cũng thừa nhận tranh thủ đọc quyển Good to Great, viết bởi Jim Collins [2], trong giờ nghỉ giải lao khi họp bàn về vấn nạn Google.

    Vậy loại kỳ thư thuộc hàng khủng này có thực sự hữu ích hay không mà khiến ngay cả bọn nhà giàu như Steve Ballmer cũng ngấu nghiến đọc lấy được? Đã có hàng loạt các bài viết và sách khác được chấp bút để ném đá các sách bí kíp hàng khủng này. Dưới đây tôi sẽ nêu một số thí dụ, tập trung chính vào quyển The Halo Effect của Phil Rosenzweig [3].

    Cách đây không lâu, Steven Levitt (tác giả chính của Freakonomics) có viết một bài From Good to Great… to Below Average châm biếm nhẹ nhàn Good to Great. Cụ thể, trong 11 công ty được Jim tặng huân chương trong quyển này vì có tốc độ tăng trưởng chóng mặt trong vòng 15 năm liên tiếp thì đa số làm ăn loàng xoàng kể từ khi quyển sách ra đời vào năm 2001. Cụ thể hơn, nếu năm 2001 bạn đầu tư vào một trong hai hoặc cả hai trong số những công ty trên là Fannie MaeCircuit City thì bây giờ bạn đã lỗ hơn 80%. Có lẽ Jim Collins đã sai lầm khi viết rằng các công ty good-to-great được dẫn dắt bởi level-5 leaders, những người không chỉ lãnh đạo giỏi mà còn có thể xây dựng một công ty trường tồn (built to last) ngay cả sau khi ra đi. Bây giờ nhìn lại thì bọn lãnh đạo của Fannie Mae được nhiều báo chí nói đến như một lũ sâu mọt. Như Steven Levitt nói, bạn cuối cùng vẫn chỉ có thể nhìn lại quá khứ và nói nhăng cuội về các công ty đã thành công.

    Nhưng đấy lại không phải là lý do mà nhiều bạn mua sách của Jim Collins hoặc các sách dạy làm giàu khác. Có một câu ngạn ngữ khá phổ biến: mọi sự dự đoán đều rất khó, nhất là khi dự đoán về tương lai. Chính vì lẽ này mà các kinh tế gia thỉnh thoảng bị chỉ trích chẳng làm gì được cho đời vì họ hầu hết chẳng dám dự đoán về cái quái gì cả.

    Fannie Mae với Circuit City không phải là lý do tốt để nhận xét về Good to Great, vì nếu thế thì Steven Levitt cũng chỉ là Jim Collins 2.0 beta. Đã có nhiều học giả ném đá Jim Collins ở tầm rộng và sâu hơn, trong đó có Phil Rosenzweig. Do đó tôi xin giới thiệu và bình luận quyển The Halo Effect and Eight Other Delusions that Deceive Managers của ông này. Như một luật bất thành văn, đến một lúc nào đó cũng sẽ có một số công ty nào đó làm phật lòng một tác giả nào đó và rồi sẽ lại có một tác phẩm kinh điển khác ra đời, sành điệu hơn và đọc cũng có lý hơn. The Halo Effect (THE) giúp đọc giả suy nghĩ thấu đáo hơn về 9 ảo tưởng (delusions) thường thấy trong những quyển sách như vậy.

    The image “http://ecx.images-amazon.com/images/I/512APMVC7TL._SL500_AA240_.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.Như Freakonomics, Fooled by Randomness, hay Black Swan [4], THE cũng là một bestseller và tác giả cũng rất thích trò ném đá. The Halo Effect phê phán các lỗi ngụy biện (logical fallacies) và ảo tưởng (delusions) mà những nhà quản lý cũng như nhiều tác giả nổi tiếng thường mắc phải. Phil cho rằng các sách kinh điển gần đây tuy phô trương về mức độ nghiên cứu để gây ấn tượng với đọc giả nhưng thực ra chỉ là giả khoa học (pseudoscience) và vẫn chỉ dừng ở mức giỏi kể chuyện (story telling). Không có gì ngạc nhiên khi Nassim Taleb, tác giả của cả 2 quyển Fooled by RandomnessBlack Swan, dành những lời có cánh cho The Halo Effect!

    Ảo tưởng nổi cộm nhất, được trình bày xuyên suốt quyển sách, là hiệu ứng hào quang (halo effect). Một ví dụ điển hình của hiệu ứng hào quang được nói đến là các sách dạy làm giàu thường cho rằng khả năng lãnh đạo của tổng giám đốc, định hướng thị trường (market orientation), sự hài lòng của nhân viên (employee satisfaction),… là những yếu tố mấu chốt dẫn đến sự thành công (performance) của một công ty. Nghe cũng hợp lý thật. Tuy nhiên, làm thế nào để đánh giá (measure) khả năng lãnh đạo của một giám đốc hay định hướng của một công ty có tốt hay không? Hầu hết, kể các nhân viên trong công ty được hỏi, sẽ đánh giá các chỉ số này dựa trên chính performance của công ty này. Đấy gọi là hiệu ứng halo - hào quang của công ty khiến người ta nhìn vào và tán thán hệ thống quản lý của công ty đó. Do đó, theo ngôn ngữ của Phil, thành công của một công ty chỉ giúp định nghĩa khái niệm lãnh đạo giỏi chứ không hẳn là hệ quả của yếu tố này.

    Tuy nhiên, Phil cho rằng đây là một lỗi rất thường gặp trong các sách kinh doanh. Các sách này thường viết về các tố chất làm nên một công ty vĩ đại; và cách họ nghiên cứu là hỏi hàng loạt công ty những câu kiểu như “anh cho giám giám bao nhiêu điểm về sự thân thiện đối với nhân viên?”, “nếu được chọn lại, chị sẽ chú trọng vào mặt hàng gì?” Những nghiên cứu như thế này, cho dù quy mô đến cỡ nào (phỏng vấn 1 triệu doanh nghiệp, đọc 1 tỷ báo cáo, 30 người làm việc ngày đêm trong 5 năm) theo Phil đều vô dụng vì chất lượng dữ liệu thấp (low-quality data), cụ thể dữ liệu bị lỗi halo.

    Một lỗi thường gặp khác là sự nhầm nhọt giữa mối quan hệ tương quan (correlation) và mối quan hệ nhân quả (causality). Một ví dụ thú vị trong kinh doanh là hiện tượng rất nhiều đại gia làm trong ngành công nghệ cao thất học: Bill Gates (Microsoft), Steve Jobs (Apple), Michael Dell (Dell), Larry Ellison (Oracle) đều chưa tốt nghiệp đại học còn 2 ông chủ của Google thì cũng bỏ học tiến sĩ. Đây thực chất là mối quan hệ tương quan, chứ không phải quan hệ nhân quả - tức là không phải thất học sẽ đem lại thành công. Vì thế nếu bạn có ý định bỏ học vì sẽ dễ trở thành đại gia công nghệ cao thì hãy dè chừng. Trong các sách phổ biến mà Phil bêu đầu, các tác giả đều mắc phải lỗi này khi so sánh các công ty với nhau, tìm các đặc điểm giống và khác nhau rồi đưa ra kết luận về các yếu tố tạo nên thành công (chẳng hạn dám bỏ học). Quay lại trường hợp Good to Great, nếu Apple tiếp tục đà tăng trưởng như hiện nay thì vài năm nữa Jim Collins chắc phải thay đổi khái niệm “level-5 leadership” vì Steve Jobs là một kẻ độc đoán chứ không hề có phong cách lãnh đạo giống như 11 giám đốc được khen thưởng trong Good to Great.

    Phil còn đề cập đến 7 ảo tưởng khác mà các bạn có thể tìm hiểu thêm qua quyển The Halo Effect. Như tôi đã nói, một lý do chính khiến sách của Phil nổi tiếng là vì Phil ném đá các bạn viết khác rất kinh, không chỉ ném đá về cách lý luận, nghiên cứu mà còn ném đá cả về giá trị (added value) các quyển sách của họ mang lại. Theo Phil, chúng thường được viết rất hay nhưng thực ra không có gì đột phá và ai cũng biết [5]. Phil viết “Most popular books return again and again to the same fundamentals. From Tom Peters through Jim Collins, the same themes are sounded: companies do well when managers live by deeply held values, pursue a clear vision, care about their employees, focus on their customers, and strive for excellence.” Ấy là theo Phil, còn theo tôi thì nhắc đi nhắc lại những nguyên tắc cơ bản không phải ai cũng thực hiện được bằng lối kể chuyện hấp dẫn thì cũng có giá trị nhất định nào đó. Chí ít nó cũng tạo thêm được một chút hưng phấn cho bạn đọc trong chốc lát.

    Một điểm tai hại nữa của các quyển sách dạy kinh doanh nổi tiếng là các tác giả cho rằng nếu bạn tuân thủ các nguyên tắc vàng nêu trên thì bạn nhất định sẽ là người lãnh đạo/quản lý giỏi và theo ngôn ngữ trong quyển The Halo Effect, nghĩa là công ty của bạn sẽ thành công về mặt tài chính. Phil nghiên cứu và đưa ra ví dụ về KMart những năm 1990s. Các nhà quản lý KMart cũng có các phẩm chất tốt và thực tế doanh thu của KMart có tăng mạnh những năm này. Tuy nhiên, doanh thu và lợi nhuận của một đối thủ khác là Walmart lại tăng gấp 10 lần như vậy và cuối cùng KMart cũng phải chết yểu. Tương tự, sẽ rất tai hại nếu suy nghĩ rằng nếu một công ty chưa bao giờ trở nên vĩ đại thì các nhà quản lý của họ còn kém và đáng được thay thế. Nói đến đây, tôi lại liên hệ đến một lỗi logic mà chúng ta hay gặp, đó là hiệu ứng “thấy chưa” (confirmation bias). Confirmation bias có thể hiểu sơ sài qua ví dụ sau: ông Dự đặt cược 2 tạ thóc rằng Barack Obama sẽ thắng cử tổng thống Mỹ và nếu tay này thắng thật, hắn sẽ la lên “thấy chưa” như thể hắn có khả năng dự đoán (trong trường hợp ngược lại Paris Hilton thắng, ông Khoa sẽ là người la lên “thấy chưa”). Bác Hưng đã viết khá chi tiết về Confirmation Bias trong bài Black Swan nên tôi sẽ không nói thêm về lỗi này. [6]

    Nhìn chung, cách trình bày của Phil tương đối rối rắm nhưng The Halo Effect có nhiều luận điểm thú vị. Tôi không cho rằng THE là sách phải đọc của các bạn mong muốn làm nhà quản lý trong tương lai. Tuy nhiên, nếu bạn nào đã từng gối đầu giường một sách dạy các bí quyết kinh doanh hoặc quản lý nào đó thì cũng nên đọc thêm THE… để tham khảo.


    Chú thích

    Một ngày trong đời của Ivan Denisovich

    Nguyễn An Nguyên -- 06 tháng 08, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Nhà văn vĩ đại người Nga Alexander Solzhenitsyn, Khôi nguyên Nobel Văn học 1970, vừa qua đời ngày 3/8/2008. Gulag Archipelago, tác phẩm vĩ đại nhất của ông, đã được dịch ra tiếng Việt trước năm 1975 dưới tên Quần đảo ngục tù, nhưng chưa được tái bản. Các bạn có thể theo dõi trên trang talawas.de từ ngày 5/8/2008.
    Một ngày trong đời của Ivan Denisovich, thường được coi là tác phẩm quan trọng thứ nhì của Solzhenitsyn, đã được dịch giả Đào Tuấn Ảnh chuyển ngữ gần đây. Bản dịch này, theo blogger Nhị Linh, được in trong tập Các nhà văn Nga giải Nobel, Đông Tây và NXB Lao động, 2007, tr. 424-556. Chúng tôi mong các bạn có điều kiện hãy mua sách ủng hộ tác giả, Trung tâm Đông Tây và Nhà xuất bản Lao Động.
    Các bạn không có điều kiện mua sách có thể đọc trên mạng ở đây, hoặc tải file PDF theo đường link này.

    Bài trong chủ đề Giới thiệu sách | 2 lời bình »

    Ảnh hưởng tăng giá xăng dầu vào CPI - Updated

    Giang Lê -- 23 tháng 07, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Trong bài “Giá xăng dầu, không muốn cũng phải tăng” trên Thời báo Kinh tế Sài gòn ngày 21/07/2008, ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý Giá cả thuộc Bộ Công Thương cho rằng ảnh hưởng trực tiếp (first round effect) của việc tăng giá xăng dầu vào CPI sẽ khoảng 0.9%. Tuy nhiên con số này chỉ phản ánh mức độ tăng của giá xăng và giá dầu hỏa, có trọng số trong rổ hàng hóa tính CPI lần lượt là 2.58% và 0.24%, chứ chưa tính đến ảnh hưởng gián tiếp (second round effects) của giá xăng dầu vào các mặt hàng khác. Để có thể định lượng second round effect, trước hết cần xác định tỷ lệ đầu vào (input share) của xăng dầu cho tất cả các loại hàng hóa trong rổ CPI và độ co dãn thay thế (elasticity of substitution) giữa các đầu vào khác nhau cho từng sản phẩm. Việc này đòi hỏi phải có một lượng lớn số liệu giá cả và khối lượng đầu vào cũng như đầu ra của rất nhiều mặt hàng, chắc chắn vượt quá khả năng thống kê kinh tế hiện tại của VN.

    Một phương pháp đơn giản hơn mà các nhà kinh tế thường sử dụng là dùng số liệu từ bảng vào-ra (Input-Output table) của nền kinh tế trong một năm nào đó để tính input shares và giả định tất cả elasticities of substitution giữa các đầu vào bằng không. Nghĩa là input shares không thay đổi dù giá đầu vào và công nghệ có thay đổi thế nào đi nữa. Do vậy, khi giá của một input tăng lên, nếu nhà sản xuất tăng giá đầu ra tương ứng thì giá thành sản phẩm sẽ tăng đúng bằng tỷ lệ tăng giá đầu vào nhân với input share. Nói nôm na, nếu sản phẩm A cần 10% đầu vào là xăng dầu để tạo ra 1000đ giá trị đầu ra thì ảnh hưởng của 30% tăng giá xăng dầu sẽ làm giá của A tăng 3% hay 30đ. Sau đó lấy tỷ lệ tăng giá đầu ra này nhân với trọng số (weight) của sản phẩm A trong rổ CPI sẽ tính được second round effect của 30% tăng giá xăng dầu vào CPI. Cộng các second round effects của tất cả hàng hóa trong rổ CPI sẽ ra tổng ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu vào CPI của first round và second round. Dùng phương phát tính này với số liệu từ bảng IO của VN (triết xuất từ bảng SAM – Social Accounting Matrix 2000 do Tổng cục Thống kê và Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương xây dựng) cho thấy ảnh hưởng của đợt tăng giá vừa qua vào CPI như sau:

    Đọc tiếp toàn bài »

    Bài trong chủ đề Kinh Tế | 16 lời bình »

    Sự Thăng Giáng của Giá Dầu, An Ninh Năng Lượng và Tranh Chấp Biển Đông

    Dự Trần -- 22 tháng 07, 2008 -- Bản để in Bản để in

    (Bài đang viết dưới dạng bản thảo và chưa hoàn chỉnh, post lên để các bạn đọc chơi, xin vui lòng không đăng lại, không trích dẫn - cảm ơn).

    .

    Năm 1997, Fallout được Black Isle Studios lần đầu tiên giới thiệu ra công chúng và nhanh chóng trò chơi nhập vai (role-playing games) hay nhất mọi thời đại. Thế giới giả tưởng trong Fallout là một thế giới hoang tàn vì bị bom nguyên tử trải thảm. Loài người gần như bị diệt chủng ngoại trừ một số sống sót do trú ẩn trong các hầm ngầm kiên cố dưới lòng đất. Nguyên nhân của cuộc chiến giả tưởng này được khơi nguồn từ sự tranh giành quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên, trong đó Trung Quốc và Mỹ là hai đối thủ chính.

    .

    Cũng trong năm 1997, Humphrey HawksleySimon Holberton cho ra đời tiểu thuyết “Dragon Strikes” (Đòn Rồng). Cuốn sách nói về một cuộc chiến trong tương lai ở vùng Châu Á – Thái Bình Dương mà khởi điểm là chiến tranh trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cuộc chiến nhanh chóng lan rộng ra quy mô toàn cầu với sự tham gia của Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc và nhiều nước khác. Đòn Rồng kết thúc bằng một thăng bằng mong manh dựa vào đe dọa hạt nhân từ phía Trung Quốc. Nguyên nhân cuộc chiến trong Đòn Rồng cũng bắt nguồn từ vấn đề tài nguyên.

    .

    FalloutDragon Strikes là hai trong nhiều tác phẩm giả tưởng của Phương Tây dựa trên mối đe dọa được cảm nhận từ Trung Quốc. Chúng cũng dựa trên một vấn đề có thật là tranh chấp tài nguyên đã, đang và sẽ tiếp tục là nguyên nhân số một trong các xung đột quốc tế.

    .

    Đã có một thời gian sau thập kỷ 80s nhiều người tin rằng sự phát triển của khoa học kỹ thuật có thể giúp giải quyết vấn đề tài nguyên one-and-for-all. Trên thực tế thì thế giới cũng có khoảng gần 20 năm tương đối bình ổn. Giá dầu thấp ổn định đưa đến một ảo tưởng rằng sự ổn định sẽ kéo dài mãi.

    .

    Ấy thế nhưng trong khoảng vài năm trở lại đây thì vấn đề khủng hoảng năng lượng lại quay trở lại ám ảnh nhân loại. Sự xụp đổ của 2 tòa nhà World Trade Center ở New York là mốc khởi điểm cho một cơn bão giá năng lượng mới. Tính theo đô la của năm 2007 thì giá dầu thô đã tăng từ mức xấp xỉ 23 USD năm 2001 lên mức trên 130 USD vào tháng 7 năm 2008, gấp khoảng 6 lần mức giá năm 2001 (xem Hình 1)…

    Đọc toàn bài tại: oil_gas_part1and2

    Thảo luận chung của bạn đọc

    Bài Viết Của Bạn Đọc -- 12 tháng 07, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Các bạn đọc Minh Biện thân mến,

    Lâu nay, MB đã vượt qua một blog tập thể thông thường và trở thành một diễn đàn tranh luận thường xuyên của nhiều anh chị em. Các cuộc tranh luận ấy có mạch sống riêng của chúng, và việc chúng đi ra quá xa chủ đề ban đầu là chuyện tự nhiên. Tuy thế, chúng cũng cản trở chúng ta tranh luận một cách tập trung và sâu hơn vào từng chủ đề. Lỗi ấy là của admin chúng tôi.

    Nay chúng tôi xin mở ra Post này, để các anh chị em trao đổi bất kì vấn đề gì mà mình muốn mà không liên quan đến các bài viết đăng trên MB. Khi comments đã quá nhiều, chúng tôi sẽ tách thành post mới để các anh chị em không phải mất thời gian tải trang. Chúng tôi mong rằng các trao đổi ấy cũng cần dựa trên tinh thần thực chứng, duy lý và khoan dung.

    Khi đã có sân chơi này, chúng tôi sẽ monitor cẩn thận hơn các comments dưới các bài viết để đảm bảo rằng chúng phù hợp với vấn đề đang được nêu ra.

    Chúc các anh chị em có những cuộc tranh luận sôi nổi.

    Admin

    Cắt điện hay là cái giá của độc quyền

    Dự Trần -- 08 tháng 07, 2008 -- Bản để in Bản để in

    …và Thượng Đế phán rằng, ‘Hãy để ánh sáng tới’ … nhưng Công ty Điện lực nói rằng Ngài phải chờ đến sáng mai vì tối nay có lịch cắt điện toàn thành phố.

    Lịch Cắt Điện là một mục được đặt trang trọng trên trang nhất của các trang web Công ty Điện lực ở Hà nội, Sài gòn và nhiều địa phương khác. Trong khi Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) liên tục khẳng định chỉ cắt điện sinh hoạt, không ít doanh nghiệp khắp nơi đã lên tiếng chỉ trích EVN là nói sai sự thật. Tình trạng thiếu điện ở VN nghiêm trọng tới mức nhiều người bắt đầu ví von rằng sau 20 phát triển kinh tế thì Việt Nam lại quay lại tình trạng phải liên tục cắt điện như thời còn bao cấp.

    Theo EVN – ông trùm của ngành điện Việt Nam – thì việc thiểu điện là do tốc độ tăng trưởng tiêu dùng quá nhanh. Việc đổ thừa cho người tiêu dùng ít nhiều đã khiến dư luận phẫn nộ. Trên thực tế thì thì không phải EVN nói sai. Trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của nhu cầu dùng điện trung bình đạt khoảng 15% một năm. So với năm 2004, nhu cầu tiêu dùng điện năm 2010 sẽ gấp tăng gấp đôi, tới năm 2015 sẽ tăng gấp 3 và tới năm 2020 sẽ tăng gấp 5,5 lần. Tốc độ này có thể cao hơn nếu tăng trưởng kinh tế trong dài hạn có triển vọng tốt.

    Bảng 1: Tăng trưởng nhu cầu dùng điện ở VN

    Nguồn: Ngân hàng Thế giới

    Đọc tiếp toàn bài »

    Bài trong chủ đề Kinh Tế | 34 lời bình »

    Hỏi đáp kinh tế học

    Minh Biện -- 04 tháng 07, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Topic này là để các bạn bè MB đặt câu hỏi ngắn và trả lời ngắn (dưới 400 chữ) cho nhau về các vấn đề kinh tế học. Xin lưu ý rằng topic này chủ yếu là để các độc giả MB nâng cao kiến thức kinh tế học của mình, và không dành cho nhận định, dự đoán của cá nhân về thị trường, nền kinh tế Việt Nam hay thế giới.

    Các bloggers kinh tế của Minh Biện sẽ tham gia cùng các bạn, và sẽ chọn lọc các câu trả lời hay, dễ hiểu, sinh động để đưa vào phần thân của post này. Khi có nhiều câu trả lời, chúng tôi sẽ cố gắng phân thành các mục theo chủ đề (vi mô, vĩ mô, tài chính, tiền tệ v.v.). Chúng tôi hi vọng là các câu trả lời chủ yếu sẽ đến từ chính các bạn, cho và vì các bạn.

    Bài trong chủ đề Giáo dục, Kinh Tế | 105 lời bình »

    Lãi suất thực

    Giang Lê -- 01 tháng 07, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Barry Eichengreen, giáo sư kinh tế đại học Berkerley, cho rằng ngân hàng trung ương các nước châu Á trong đó có NHNN VN đang chống lạm phát một cách nửa vời (half-hearted) khi chưa tăng lãi suất danh nghĩa (nominal interest rate) đủ cao nên lãi suất thực (real interest rate) vẫn âm. Trong trường hợp VN, Eichengreen dùng lãi suất cơ bản do NHNN công bố (14%) trừ đi lạm phát tháng 5/2008 so với cùng kỳ năm trước (25%), do vậy lãi suât thực là -11%. Để có thể chống lạm phát một cách hiệu quả, Eichengreen cho rằng các ngân hàng trung ương này cần tiếp tục tăng lãi suất cho đến khi nào lãi suất thực trở nên dương. Mặc dù lời khuyên của Eichengreen là một qui tắc chuẩn khi điều hành chính sách tiền tệ, đằng sau nó có rất nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ cho các nhà hoạch định chính sách VN.

    Về lý thuyết, lãi suất thực được định nghĩa là lãi suất danh nghĩa trừ đi kỳ vọng lạm phát. Tuy nhiên chúng ta đều biết trên thực tế có rất nhiều loại lãi suất danh nghĩa (từ đây đến cuối bài, “lãi suất danh nghĩa” sẽ được viết gọn là “lãi suất” nếu ngữ cảnh cho phép), từ lãi suất cơ bản mà NHNN công bố, lãi suất huy động của các NHTM, lãi suất cho vay thương mại, đến lãi suất qua đêm liên ngân hàng. Bởi vậy, sử dụng lãi suất nào cho công thức tính lãi suất thực mà Eichengreen đề nghị là một vấn đề rất quan trọng vì các loại lãi suất khác nhau có thể có chênh lệch rất lớn. Ngoài ra lãi suất thực tế (effective interest rates) sau khi tính gộp các loại phí (chính thức và không chính thức) và ảnh hưởng của các biến dạng (distortions) trong thị trường vốn có thể khác rất nhiều so với con số được công bố.

    Kỳ vọng lạm phát còn phức tạp hơn nhiều. Trên thực tế không tồn tại một thước đo chính xác cho khái niệm này và nhiều người, kể cả Eichengreen, sử dụng lạm phát tính từ Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index - CPI) trong cùng thời điểm thay cho kỳ vọng lạm phát. Điều này liên quan đến hai vấn đề không dễ dàng giải quyết. Thứ nhất, về mặt lý thuyết dùng lạm phát hiện thời thay cho kỳ vọng lạm phát chỉ đúng nếu mọi đối tượng của nền kinh tế (doanh nghiệp, người tiêu dùng) có kỳ vọng hợp lý (rational expectation) và có thông tin đầy đủ (symmetric information). Hai điều kiện này rất khó tồn tại trên thực tế như nhiều tác giả đã chỉ ra. Thứ hai, ngoài CPI hầu hết các nước còn có các chỉ số lạm phát khác như PPI, WPI, các chỉ số trượt giá tổng quát (deflators). Chỉ riêng với CPI nhiều nước còn phân biệt Headline CPI (Chỉ số giá tiêu dùng toàn phần) với Core CPI (Chỉ số giá tiêu dùng cơ bản), hay unadjusted CPI (Chỉ số giá tiêu dùng nguyên gốc) với seasonally adjusted CPI (Chỉ số giá tiêu dùng đã hiệu chỉnh yết tố mùa vụ). Vậy cái tiêu chí “lãi suất thực dương” sẽ rất mơ hồ nếu không xác định rõ cấu thành của nó là gì, nhất là trong bối cảnh của VN hiện nay lãi suât thực có thể dễ dàng chuyển từ âm sang dương nếu hai cấu thành của nó thay đổi. Bài viết này sẽ thảo luận một số vấn đề liên quan đến hai cấu thành của công thức tính “lãi suất thực”.

    Đọc tiếp toàn bài »

    Bài trong chủ đề Kinh Tế | 51 lời bình »

    Cán cân thanh toán

    Nguyễn An Nguyên -- 26 tháng 06, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Bảng cán cân thanh toán này (do Morgan Stanley tổng hợp) là nền tảng để phân tích nguy cơ khủng hoảng tài chính tiền tệ, và xu hướng của tỉ giá, mà nhiều bạn đọc MB đang quan tâm. Vì thế, xin được giới thiệu bảng này để các bạn tham khảo, làm cơ sở cho các tranh luận về những vấn đề này (toàn văn của báo cáo MS ở trang Kinh tế Trần Hữu Dũng). Với các bạn chưa quen với Cán cân Thanh toán và các khái niệm liên quan, xin đọc ở wikipedia tiếng Việt. Chúc các bạn có các cuộc tranh luận bổ ích.

    Đọc tiếp toàn bài »

    Bài trong chủ đề Kinh Tế | 6 lời bình »

    Chu kỳ kinh tế - Update

    Giang Lê -- 13 tháng 06, 2008 -- Bản để in Bản để in

    “Unfortunately, it seems there’s little policymakers can do about this [prevent the UK economy going into a recession and having high inflation at the same time].” Dominic White – ABN AMRO, 05/06/2008. (“Không may, có vẻ như những nhà hoạch định chính sách khó có thể làm gì để cứu vãn tình thế này [chống lại việc nền kinh tế Anh quốc vừa rơi vào một cuộc khủng hoảng vừa bị lạm phát cao].” Dominic White – Ngân hàng ABN AMRO, 05/06/2008).

    “Bernanke also knows, the same forces of uncertainty [in the financial market] that lead to a recession also render policy-makers relatively powerless to prevent it. … So the current situation is a perfect storm – a huge surge in uncertainty that is not only generating a rapid slowdown in activity but also limiting the effectiveness of standard monetary and fiscal policy to prevent this.” Nicolas Bloom – Stanford University, 04/06/2008. (Ông Bernanke cũng biết rằng, chính tình trạng bất an [trong thị trường tài chính] mà là lực đẩy của một cuộc suy thoái kinh tế cũng là nguyên nhân làm cho các nhà hoạch định chính sách mất hết khả năng chống lại cuộc suy thoái đó. …. Vì vậy tình hình hiện tại như là một cơn bão hoàn hảo (không thể chống được) – với một sự tăng lên đột biến của tình trạng bất an không những tạo ra một cuộc suy giảm các hoạt động kinh tế một cách quá nhanh mà còn hạn chế tính hiệu quả của các chính sách tiền tệ và tài khóa được đưa ra để ngăn chặn nó.” Nicolas Bloom – Đại học Stanford, 04/06/2008)

    Tôi không có ý định so sánh tình trạng kinh tế hiện thời của Việt nam với Anh và Mỹ, và cũng không muốn so sánh năng lực cũng như tiềm lực (resources) của NHNN với Bank of England hay FED vào thời điểm này. Với hai trích dẫn trên tôi chỉ muốn đưa ra dẫn chứng rằng có những thời điểm các nhà hoạch định chính sách không thể ngăn chặn được một chu kỳ kinh tế (business cycle) bất lợi cho đất nước mình. Ở các nước với nền kinh tế thị trường phát triển, giới doanh nghiệp và học giả kinh tế hiểu được điều này. “Đừng chống lại chu kỳ kinh tế” (Don’t fight a business cycle) được hiểu một cách rộng rãi như một qui tắc khôn ngoan cho cả doanh nghiệp lẫn các nhà hoạch định chính sách.

    Nói như vậy không có nghĩa là tôi bênh vực cho NHNN và Chính phủ Việt nam đã không có những sai lầm về mặt chính sách trong quá khứ dẫn đến tình trạng kinh tế vĩ mô tồi tệ hiện tại. Ngay cả “ông phù thủy” Alan Greenspan, người đã từng được cả thế giới tài chính tôn sùng như một nhà kinh tế và hoạch định chính sách vĩ đại nhất trong lịch sử, cũng đang bị chỉ trích về chính sách tiền tệ sai lầm trong thời kỳ 2002-2003. Nhiều người cho rằng việc Greenspan đã giữ lãi suất thấp quá lâu sau sự kiên 9/11 là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng cho vay bất động sản dưới chuẩn (subprime mortgage crisis) hiện tại. Với tôi, nền kinh tế Việt nam từ đầu năm 2008 đang trải qua một “cuộc hạ cánh đầy bất trắc” (hard landing) sau thời kỳ phát triển quá nóng. Đáng tiếc là những phi công của nền kinh tế (NHNN và Chính phủ) đã lái chiếc máy bay của mình quá cao và quá nhanh rồi đến lúc gặp thời tiết bất ổn đã đạp phanh quá gấp. Khách quan mà nói, sự non nớt của các vị phi công này là một nguyên nhân quan trọng, nhưng đằng sau cuộc “hạ cánh đầy bất trắc” này là những những qui luật tất yếu của chu kỳ kinh tế.

    Đọc tiếp toàn bài »

    Bài trong chủ đề Kinh Tế | 236 lời bình »

    Về các lời bình bị “biệt tăm”

    Minh Biện -- 05 tháng 06, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Minh Biện dùng phiên bản mới nhất của Akismet spam filter. Hiện nay Akismet tạo khá nhiều false positives, có lẽ do ngôn ngữ bất đồng (Anh/Việt). Nếu lời bình của bạn biệt tích giang hồ thì là do Akismet lưu đày nó biệt xứ, không phải do admin xóa. (Ngoại trừ nhũng lời bình vô văn hóa.) Admin Minh Biện không kiểm duyệt từng lời bình.

    Do đó, mong các bạn đọc cố tránh gửi lại lời bình ngay lập tức nếu thấy nó biến mất. Admin sẽ de-spam lời bình trong quỹ thời gian cho phép.

    Chúc một ngày lành.

    Bài trong chủ đề Thông báo | 13 lời bình »

    Tập San Sử Địa 29: Đặc Khảo Hoàng Sa, Trường Sa

    Dương Danh Huy -- 05 tháng 06, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông xin giới thiệu với bạn đọc Minh Biện quyển “Tập San Sử Địa 29: Đặc Khảo Hoàng Sa, Trường Sa”.

    Quyển này được viết bởi những tác giả

    HOÀNG XUÂN HÃN
    TRẦN HỮU CHÂU
    TRỊNH-TUẤN-ANH
    THÁI VĂN KIỂM
    LAM GIANG
    LÃNG HỒ
    HÃN NGUYÊN
    SƠN HỒNG ĐỨC
    NGUYỄN HUY
    VÕ LONG TÊ
    QUỐC TUẤN
    NGUYỄN NHÃ
    Ông và bà TRẦN ĐĂNG ĐẠI
    TRẦN THẾ ĐỨC
    NHÓM THƯ TỊCH SỬ ĐỊA

    sau khi Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa năm 1974.

    Quyển này được xuất bản tại Sài Gòn đầu năm 1975 (tức là dưới VNCH) dưới sự tài trợ của Nhà Sách Khai Trí và dưới ban chủ biên, ban trị sự dưới đây.

    BAN CHỦ BIÊN:
    NGUYỄN THẾ ANH-BỬU CẦM-LÂM THANH LIÊM-PHẠM VĂN SƠN-THÁI VIỆT ĐIỀU-PHẠM CAO DƯƠNG-PHÙ LANG-NHẤT THANH-ĐẶNG PHƯƠNG NGHI–QUÁCH THANH TÂM-TRẦN ĐĂNG -PHẠM ĐÌNH TIẾU-NGUYỄN KHẮC NGỮ-NGUYỄN HUY-TRẦN QUANG HUY-TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG-PHẠM LONG ĐIỀN-TRẦN ANH TUẤN-TRẦN QUỐC GIÁM-NGUYỄN SAO MAI-MAI CHƯỞNG ĐỨC-TRẦN THẾ ĐỨC-THÁI CÔNG TỤNG

    BAN TRỊ SỰ:
    Nguyễn nhã * nguyễn nhựt tấn * phạm thị hồng liên * nguyễn ngọc trác * trần đình thọ * nguyễn hữu phước * phạm thị kim cúc * trần ngọc ban *phạm văn quảng * phạm đức liên * lâm vĩnh thế.

    Tuy không và không thể đề cập tới tất cả các khía cạnh của tranh chấp Biển Đông, TSSĐ29 là một tài liệu quý cho những lãnh vực sách này đề cập tới. Thí dụ, TSSĐ29 có một số chứng cớ để phản bác những điều mà Trung Quốc dùng để gọi là chứng cớ lịch sử của họ.

    QNCBĐ đã thực hiện bản đánh máy này với tiền của người đóng góp. Đây là một bản đánh máy rất công phu, giữ lại hình ảnh, bản đồ, trình bày, mặt chữ v.v. của bản gốc. Có một số nhỏ các từ Hán Nôm sẽ được bổ xung sau.

    Hy vọng bản đánh máy này góp phần cho quyển TSSĐ29 phổ biến kiến thức về Hoàng Sa, Trường Sa. Hy vọng là những kiến thức này sẽ không chỉ có giá trị hàn lâm mà góp phần cho những hành động để chống lại những lý lẽ nguỵ tạo của Trung Quốc về Hoàng Sa, Trường Sa.

    Về vấn đề bản quyền, QNCBĐ đã có nỗ lực để xác định nhưng vẫn không biết bản quyền thuộc về ai, eg, tác giả, hay Nhà Sách Khai Trí, hay ban chủ biên, hay ban trị sự. TS Nguyễn Nhã, một trong những tác giả và trưởng ban trị sự, là người duy nhất chúng tôi liên lạc đươc. Ông đồng ý với việc QNCBĐ đăng quyển TSSĐ29 lên mạng. Vì vậy, chúng tôi xin mạn phép đăng bản đánh máy này một cách vô vụ lợi, nhằm góp phần phổ biến kiến thức về Biển Đông. Nếu có ai giúp chúng tôi liên lạc được với tác giả hay gia đình của họ, hay chủ nhà sách Khai Trí thì chúng tôi xin đa tạ.

    Bài trong chủ đề Biển Đông | 10 lời bình »

    Tấn công tiền tệ liệu có xảy ra với VNĐ?

    Giang Lê -- 01 tháng 06, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Gửi các bạn đọc Minh Biện: Sau khi bài viết “Beyond the tipping point” của Morgan Stanley được phổ biến, vấn đề khủng hoảng tiền tệ và một cuộc tấn công vào đồng Việt nam trở thành một đề tài “nóng” và “nhạy cảm”. Tác giả loạt bài về NHNN Việt nam xin tạm ngưng phần tiếp theo về lạm phát và chính sách tiền tệ để giành thời gian bày tỏ một vài quan điểm của mình về khả năng đồng Việt nam sẽ bị giới đầu cơ thế giới tấn công. Phần tiếp theo về NHNN sẽ được giới thiệu trong thời gian tới.

    Năm 2008, lần đầu tiên từ khi Việt nam tiến hành cải cách, nền kinh tế phải đối mặt với một nguy cơ khủng hoảng rất lớn. Các chỉ số kinh tế trong nước liên tục xấu đi và dường như chính phủ Việt nam chưa đủ kinh nghiệm để đương đầu với tình hình này. Bản thân nền kinh tế, mặc dù có tốc độ phát triển rất cao trong hơn 5 năm gần đây, vẫn mang nặng dấu ấn của một nền kinh tế kế hoạch hóa và vẫn thiếu sự uyển chuyển cần thiết của một nền kinh tế thị trường để có thể tự điều chỉnh mình khi môi trường thay đổi. Một trong những điểm yếu quan trọng của nền kinh tế Việt nam là cơ chế tỷ giá hối đoái.

    Đọc tiếp toàn bài »

    Bài trong chủ đề Kinh Tế | 501 lời bình »

    Updated-Người cho vay cuối cùng và lòng tin vào ngân hàng trung ương

    Giang Lê -- 29 tháng 05, 2008 -- Bản để in Bản để in

    Xin chân thành cám ơn các anh chị và các bạn đã đọc và góp ý cho phần đầu bài viết này. Mục tiêu của tác giả khi viết bài này là chia sẽ một số kiến thức và kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề liên quan đến hệ thống tiền tệ và hoạt động của ngân hàng trung ương, với các ví dụ được lấy chủ yếu từ ngân hàng trung ương Mỹ (FED). Mặc dù tác giả sẽ cố gắng phân tích các chính sách của NHNN Việt nam và những sự kiện xảy ra gần đây, bài viết đã và sẽ có nhiều hạn chế về mặt số liệu và kinh nghiệm thực tế Việt nam. Tác giả cũng giới hạn phân tích của mình trong phạm vi kinh tế học và kiềm chế không đi vào những khía cạnh chính trị hay kinh tế chính trị liên quan. Điều này hoàn toàn không phải vì chính trị và kinh tế chính trị là những vấn đề cấm kỵ hay không quan trọng với các vấn đề trong bài viêt, chỉ đơn thuần vì nó nằm ngoài phạm vi chuyên môn của tác giả. Với những mặt hạn chế như vậy, tác giả xin cáo lỗi cùng các anh chị và các bạn nếu bài viết không trả lời được những thắc mắc hay góp ý của mọi người.

    Đa số các ngân hàng trung ương trên thế giới có hai chức năng chính: điều hành chính sách tiền tệ và đảm bảo sự ổn định và an toàn cho hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng và một phần nào đó là hệ thống tài chính quốc gia nói chung. Chức năng thứ hai được thực thi qua hệ thống giám sát tính cẩn trọng (prudential supervision) của các NHTM song song với việc thực thi nghĩa vụ “người cho vay cuối cùng” (lender of last resort – LOLR) cho các NHTM có khó khăn về thanh khoản. Như đã phân tích trong bài viết trước, LOLR còn có vai trò rất quan trọng trong việc giúp ngân hàng trung ương điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc thay đổi lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn. Nếu ngân hàng trung ương không cam kết thực hiện nghĩa vụ LOLR hoặc các NHTM không tin tưởng vào lời cam kết này thì lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có khả năng trệch khỏi lãi suất mục tiêu mà chính sách tiền tệ muốn hướng tới. Tuy nhiên, mục đích chính của LOLR đối với tất cả các ngân hàng trung ương đã và vẫn là đảm bảo sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại. Đó là chủ điểm chính của bài viết này.

    Đọc tiếp toàn bài »

    Bài trong chủ đề Kinh Tế | 55 lời bình »